Biện pháp tăng đề kháng cho thủy sản

thuy-san-xen-canh
Trong quá trình nuôi trồng thủy sản, việc tăng cường bổ sung dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng ở thủy sản là vô cùng quan trọng. Dưới đây là một số biện pháp nhằm nâng cao sức khỏe ở động vật thủy sản.

Biện pháp tăng cường sức đề kháng cho thủy sản

Kiểm tra và chọn lọc con giống trước khi thả xuống ao

Việc chọn lọc con giống đạt chuẩn, không bệnh và có khả năng miễn dịch tốt với một số bệnh và sinh trưởng nhanh là một điều hết sức quan trọng trước khi bắt đầu một vụ nuôi thành công. Chính vì vậy, bà con cần nghiên cứu kỹ lưỡng và chọn các trang trại giống uy tín để tránh thiệt hại nặng trong suốt quá trình nuôi về sau.

* Cách chọn con giống:

– Lựa chọn các cơ sở cung ứng con giống thủy sản có uy tín, đảm bảo truy xuất được nguồn gốc con giống;

ca-giong

– Khi chọn giống, quan sát cá giống phải đồng đều, không dị tật, không bị xây sát; Hoạt động nhanh nhẹn, bơi theo đàn, phản ứng nhanh với tiếng động, ánh sáng, màu sắc sáng đẹp; không có các dấu hiệu khác về màu sắc, nghi có mầm bệnh.

– Cỡ cá giống thả có vai trò rất quan trọng, giống càng lớn thì càng đảm bảo tỷ lệ nuôi sống cao, rút ngắn được chu kỳ nuôi; Kích cỡ giống thả tối thiểu theo quy định như: Trắm, Chép, Mè, Trôi, Rô phi, Vược: kích cỡ chiều dài từ 6cm – 12cm.

* Thời gian và cách thả con giống:

– Thời gian thả cá giống tốt nhất vào buổi sáng hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào lúc trời đang mưa to hay nắng gắt có thể làm cá bị sốc nhiệt, yếu dẫn đến cá chết.

– Cách thả giống:

+ Trước khi thả cá nên tắm cho cá bằng nước muối 2% (20 gam muối + 1 lít nước) trong thời gian 5-10 phút để loại trừ ký sinh trùng và chống nhiễm trùng các vết xây xát.

+ Đối với cá giống được đóng trong túi nilon thì trước khi thả nên ngâm túi đựng cá vào trong nước ao khoảng 10 -15 phút, để nhiệt độ trong túi nilon cân bằng với nhiệt độ môi trường nước ao nuôi, tạo điều kiện cho cá làm quen với môi trường sống mới. Khi thả mở miệng túi cho nước chảy từ từ vào để cá bơi tự nhiên ra.

+ Đối với cá giống được vận chuyển hở bằng ô tô quây bạt, trước khi thả giống cần cân bằng môi trường giữa nước ao với môi trường nước trên xe bằng cách vừa xả bớt nước trên thùng ra, đồng thời cấp thêm nước ở ao nuôi vào để cá không bị sốc môi trường, sau đó mới tiến hành thả cá từ từ.

+ Mật độ thả: Mật độ nuôi phụ thuộc vào cỡ cá dự kiến thu hoạch, khả năng đầu tư và điều kiện ao nuôi. Thường thả cá truyền thống với mật độ 2-3 con/m2 cỡ giống 5-8 cm, hình thức nuôi có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép.

Cải tạo ao

Thực hiện cải tạo ao thật tốt trước khi thả nuôi. Nên vét bùn ao nuôi, diệt khuẩn thật kỹ nhằm tiêu diệt mầm bệnh của vụ nuôi trước. Khử trùng nước ao, kiểm tra các chỉ tiêu môi trường nằm trong ngưỡng cho phép trước khi thả nuôi.

* Đối với ao nuôi mới: Cấp và tháo nước vào ao từ 2- 3 lần để rửa ao, bón vôi giúp ổn định pH đất lượng bón tùy thuộc vào độ PH của đáy ao, lượng bón từ 7 – 10kg/100m2, thay nước ra nước vào 1- 2 lần nữa sau đó lấy nước vào ao tiến hành đo độ pH nếu ổn định ở mức trên 6,5 thì tiến hành gây màu nước bằng phân chuồng, lượng phân bón với ao mới đào cần bón từ 25 – 30kg/100m2, ngoài ra cũng có thể sử dụng phân vô cơ để gây mầu.

phoi-ao

* Đối với ao nuôi cũ: Gồm các bước như sau:

– Bước 1:  Xử lý ao: Tát cạn nước ao, tu sửa bờ cống cấp thoát nước, vét bùn đáy chỉ để lại mức 20cm bùn đáy, san phẳng đáy giúp sinh vật đáy phát triển tốt và tiện thu hoạch.

– Bước 2:  Bón vôi: Dùng vôi bột (vôi tỏa) rắc đều đáy và quanh bờ ao nhằm làm môi trường đáy tơi xốp, diệt ký sinh trùng gây bệnh, giúp động vật đáy phát triển tạo cơ sở thức ăn cho cá, giúp pH, môi trường nước luôn ổn định. Lượng vôi bón tuỳ thuộc vào pH đất với ao đất thịt không chua pH ≥ 6,5 bón 7 – 10kg/ 100 m2, ao đất sét, chua bón 10-15kg/ 100m2 nếu ao bị ô nhiễm có thể bón đến 20kg/100m2 sau đó tháo nước vào tháo rửa 1- 2lần.

– Bước 3: Phơi ao: Thời gian phơi ao phụ thuộc vào thời tiết để đảm bảo ao có phơi khô. Thời gian phơi đáy tối thiểu 7 ngày. Tiêu chuẩn ao sau khi phơi: đáy ao khô, nứt chân chim (Lưu ý: nếu đáy ao bị nhiễm phèn thì chỉ nên phơi khô đáy ao không phơi nứt chân chim)

– Bước 4: Cấp nước và bón phân gây màu nước: Nước cấp vào ao phải được lọc qua túi lọc gắn vào cửa cống hoặc đầu ra của máy bơm, để tránh cá tạp, cá dữ xâm nhập vào ao. Khi lấy nước vào cần kiểm tra các yếu tố môi trường nước. Khi nước nước đạt từ 1 – 1,5m tiến hành bón lót 30-50 kg phân chuồng/100m2 (lưu ý: phân chuồng đã được ủ kỹ với vôi bột 2-5%), hoặc phân xanh 30-50kg/100m2. sau 3-5 ngày nước ao có màu xanh lá chuối non hoặc vỏ đỗ thì tiến hành thả giống.

Nuôi xen canh các loài thủy sản khác 

Các chất thải từ phân, nước tiểu và thức ăn dư thừa tích lũy trong ao nuôi tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, nguồn nước bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước trong ao nuôi và tăng khả năng cảm nhiễm của vật nuôi. Do đó có thể nuôi xen canh các đối tượng thủy sản với nhau để tận dụng nguồn thức ăn thừa trong ao để khắc phục tình trạng này.

thuy-san-xen-canh

Kỹ thuật
Phương pháp nuôi trồng thủy sản kết hợp các loài khác nhau, nuôi cùng trong diện tích mặt nước. Các loài này có khả năng hỗ trợ thuận lợi lẫn nhau. Đặc biệt là nuôi cùng cá rô phi, một loài có khả năng xử lý rất tốt các loại chất thải hữu cơ, Theo tập tính, cá rô phi bơi lội, làm ổ trên mặt đáy ao và lượng mùn bã hữu cơ từ nhiều nguồn được cá lọc triệt để; từ đó lượng khí độc trong ao như NH3, H2S… gần như không có, giúp taoj điều kiện cho các loài tôm, cá khác phát triển. Mô hình phổ biến hiện nay là cá rô phi và tôm sú xen canh. Có thể kết hợp nuôi rong câu.
Mục tiêu
Cải thiện chất lượng nước, giảm dịch bệnh, hạn chế việc sử dụng thuốc và các chất diệt trùng. Giảm chi phí chăn nuôi, tăng năng suất trên đơn vị diện tích và đang dạng thu nhập. Hạn chế phát thải khí nhà kính.

Quản lý chăm sóc sức khỏe vật nuôi

Cần theo dõi sức khỏe vật nuôi thường xuyên kiểm tra ao nuôi, cho ăn theo “4 định”: định chất lượng thức ăn, định số lượng thức ăn, định vị trí cho ăn, định thời gian cho

Bổ sung dinh dưỡng: 

– Men vi sinh là một chế phẩm sinh học probiotic và ezyme tổng hợp ở dạng khô hoặc có thể ở dạng nước đối với một số chế phẩm EM trên thị trường hiện nay, dùng để tăng cường tiêu hóa và bảo vệ đường ruột. Liều lượng sử dụng trộn 0,5 – 1 g/kg thức ăn, cho động vật thủy sản ăn suốt trong vụ nuôi. Chất dẫn dụ và kích thích bắt mồi được đưa vào với mục đích kích thích vật nuôi ăn nhiều hơn.

cam-vien-thuy-san

– Các chất dẫn dụ cá, tôm thường có chung đặc điểm đó là các hợp chất chứa nito, không bay hơi, có khối lượng phân tử rất nhỏ, tan trong nước, ổn định ở nhiệt độ cao. Việc bổ sung chất dẫn dụ sẽ kích thích vật nuôi phát hiện ra thức ăn nhỏ nhiều hơn so với lượng cần thiết để cá, tôm bắt mồi. Tuy nhiên, chỉ nên bổ sung chất dẫn dụ với một lượng vừa phải để tránh hiện tượng phản tác dụng.

– Vitamin C tăng cường bổ sung vitamin C cho vật nuôi vào những mùa bệnh xảy ra nhiều. Liều lượng 50 – 60 mg/kg thức ăn/ngày.

Tăng cường sức đề kháng cho động vật thủy sản là một trong những yếu tố giúp thành công trong nuôi trồng thủy sản nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và hạn chế ô nhiễm môi trường.